Thuốc bổ thận tráng dương từ thiên nhiên Bổ cốt chỉ

Bổ cốt chỉ có công dụng tráng dương Ôn thận Chỉ tả Bổ thận Cố tinh Ôn Tỳ Súc niệu bổ cốt chỉ vị cay đắng, tính ôn


Bổ cốt chỉ thuộc một loại cây thảo cứng, ít phân nhánh. Cây có chiều cao khoảng 1m. Cây chỉ có duy nhất 1 lá chét hình trái xoan, màu đen, có răng thô. Cả hai mặt của lá đều xuất hiện nhiều tuyến hình mắt chim. Cây có hoa màu vàng đến hơn 20 cái xếp thành đầu hình trứng. Cây có quả đậu hình trứng, sần sùi và hơi bị ép đen. Trong quả có hạt đơn độc dính với phần vỏ quả. Hạt xuất hiện với màu đen hoặc nâu đen. Trên mặt hạt xuất hiện nhiều vân hình những hạt nhỏ, phần giữa hơi lõm, có vị cay và mùi thơm.

Phần nhiều là loại cây trồng. Mọc hoang ở một số tỉnh miền núi phía Bắc. Mùa thu, lúc quả già, hái lấy bông quả, phơi khô, đập lấy hạt và bỏ hết tạp chất.

  

Bổ cốt chỉ chứa lipid và acid béo (20%), coumarin (psoralen, psoralidin, isopsoralen), furanocoumarin, flavonid... Hoạt chất có tác dụng kháng khuẩn, chống phóng xạ, chống u bướu, an thần, chống co giật, hưng phấn cơ tim, giãn mạch vành, đề cao khả năng miễn dịch...

Theo Đông y, bổ cốt chỉ vị cay đắng, tính ôn; vào kinh Tỳ, Thận và Tâm bào lạc. Tác dụng bổ thận tráng dương, ôn tỳ chỉ tả. Trị di tinh liệt dương, tiểu dắt, buốt, di niệu, đau mỏi lạnh vùng thắt lưng và đầu gối, tiêu chảy dài ngày, hen suyễn. Ngày dùng 4 - 12g, sắc uống hoặc chế thuốc hoàn tán để uống.

Bổ cốt chỉ được dùng làm thuốc trong các trường hợp:

Ôn thận tráng dương. Trị thận dương suy yếu, liệt dương, tiểu lắt nhắt, lưng và đầu gối đau buốt.

Bài 1: bổ cốt chỉ 12g, thỏ ty tử 12g, hồ đào nhục 12g, trầm hương 2g. Tất cả tán bột, luyện với mật làm hoàn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 12g với nước muối nhạt. Trị liệt dương, di tinh.

Bài 2: bổ cố chỉ tán bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g với nước lọc. Trị tiểu sót, tiểu lắt nhắt.

Ấm tỳ, cầm tiêu chảy. Trị tỳ và thận hư hàn, tiêu chảy hoặc kiết lỵ lâu ngày. Dùng bài Hoàn nhị trần: bổ cốt chỉ, nhục đậu khấu, liều lượng bằng nhau, tán bột. Nấu nước gừng và táo trộn với bột thuốc, luyện với mật làm hoàn. Ngày 2 lần, mỗi lần uống 12g với nước lọc.

Chữa bạch điến phong (lang ben): bổ cốt chỉ 63g, cồn 70 độ 200 ml, ngâm trong 7 ngày, gạn lấy rượu thuốc bôi lên chỗ bạch điến. Ngày 1 lần.

Món ăn thuốc có bổ cốt chỉ

Thận lợn hầm bổ cốt chỉ hồi hương: bổ cốt chỉ 30g (tẩm ruợu sao), hồi hương 30g (sao muối), cả 2 thứ tán bột, trộn đều. Mỗi lần dùng 10 - 12g, cho vào trong 1 quả bồ dục lợn, hầm chín nhừ ăn. Dùng tốt cho người di tinh di niệu, sinh hoạt tình dục nhiều.

Thận lợn hầm bổ cốt chỉ: thận lợn 1 cái, bổ cốt chỉ 10g, cho vào nồi hầm chín, thêm muối, gia vị ăn. Dùng cho người thận hư, đau lưng, ù tai điếc tai, di tinh di niệu, tiêu chảy dài ngày.

Cháo bổ cốt chỉ ngô thù sơn dược: Bổ cốt chỉ 12g (chế với rượu), ngô thù 3g, sơn dược 30g, gạo tẻ 80g. Nấu cháo. Dùng tốt cho người suy nhược, hen suyễn, đau lưng mỏi gối, di tinh di niệu.

Thông khí tán: bổ cốt chỉ 10g (sao nhẹ cho chín thơm, tán mịn), hồ đào 1 quả bỏ hạt nhai ăn, uống tiếp một chút rượu nóng với bổ cốt chỉ. Ăn uống khi đói. Dùng cho phụ nữ có thai bị đau lưng nhiều.

Kiêng kỵ: Người âm hư hỏa vượng, đại tiện táo kết không dùng.

Bài thuốc bổ thận tráng dương

Mã đề loại cây dưỡng và lọc sạch chất độc cho thận

Mã đề loại cây dưỡng và lọc sạch chất độc cho thận

Cây mã đề có chứa glucosid kết tinh gọi là aucubin thủy phân sẽ cho ra aucubigenin và glucose. Ngoài ra, cây mã đề còn có các men invertin và emulsin.làm thuốc trong các trường hợp bí tiểu, đái buốt. Lá mã đề mát nên có tác dụng bổ thận, đào thải chất độc cho thận.